Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011

“Quý tộc Phố Wall” vay 1.200 tỉ USD từ FED - Tuổi Trẻ Online

“Quý tộc Phố Wall” vay 1.200 tỉ USD từ FED - Tuổi Trẻ Online:


TT - Theo điều tra của Bloomberg, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã cho các tập đoàn tài chính Phố Wall vay 1.200 tỉ USD vào năm 2008.
Các hóa đơn của 1,2 ngàn tỉ USD sẽ đủ lấp đầy 539 hồ bơi chuẩn Olympic - Ảnh: Patdollard
Chủ tịch FED Ben S. Bernanke cho rằng đây là một trong những nỗ lực nhằm giữ cho nền kinh tế Mỹ không bị suy thoái. Sự suy thoái kinh tế cùng sự sụp đổ của thị trường nhà đất vào năm 2008 đã buộc hai tập đoàn tài chính lớn mạnh nhất là Citigroup và Bank of America vay khẩn cấp 669 tỉ USD, gấp 6 lần doanh thu của hai tập đoàn này. Khoản vay này đã được chia nhỏ thành những gói cứu trợ công trị giá 160 tỉ USD.
Thế nhưng, những khoản cho vay thật sự vẫn còn là một ẩn số cho đến thời điểm hiện tại. Theo dữ liệu mà Bloomberg thu thập được, con nợ lớn nhất của FED là Tập đoàn Morgan Stanley - một trong những thể chế tài chính lớn nhất thế giới - với tổng số tiền vay lên đến 107,3 tỉ USD. Kế đến là Citigroup với 99,5 tỉ USD và Bank of America là 91,4 tỉ USD. Bloomberg cho biết thêm 1.200 tỉ USD cũng là số tiền mà Mỹ đang nợ trên 6,5 triệu khoản vay thế chấp đã quá hạn thanh toán và bị tịch thu. Ông Robert Litan, cựu quan chức Bộ Tư pháp, cho biết “đây là những con số khổng lồ”.
Không chỉ dừng lại ở các tập đoàn tài chính Phố Wall, theo Bloomberg, hầu hết trong tổng số 30 con nợ hàng đầu của FED là thuộc châu Âu. Tiêu biểu như Ngân hàng hoàng gia Scotland (84,5 tỉ USD), Ngân hàng UBS AG của Thụy Sĩ (77,2 tỉ USD)...
Theo số liệu của Bloomberg, tổng số tiền 1.200 tỉ USD cho vay của FED năm 2008 là gấp ba lần thâm hụt ngân sách liên bang Mỹ năm đó và hơn tổng thu nhập của tất cả các ngân hàng được bảo hiểm của liên bang trong thập niên vừa qua.
ANH THƯ

Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2010

Kế hoạch “chấn hưng châu Âu” của Trung Quốc.

     Trung Quốc đang đẩy mạnh quan hệ và đầu tư vào những nước châu Âu có nguy cơ khủng hoảng nợ nhằm tăng ảnh hưởng tại châu lục này.

     Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo vừa có chuyến công du gây chú ý tại châu Âu từ ngày 2 - 9.10. Đầu tiên ông đến thăm Hy Lạp, rồi tham dự Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu lần thứ 8 (ASEM 8) tại Brussels, Bỉ, sau đó thăm Ý và Thổ Nhĩ Kỳ. Tại hội nghị ASEM 8, ông Ôn kêu gọi EU không tham gia gây áp lực buộc Bắc Kinh điều chỉnh tỷ giá đồng nhân dân tệ (NDT).

     Tại Athens, ông Ôn cam kết sẽ mua trái phiếu chính phủ của Hy Lạp khi nước này cần và thành lập quỹ trị giá 5 tỉ USD để hỗ trợ các công ty Hy Lạp mua tàu Trung Quốc. Tại Ý, Thủ tướng Ôn Gia Bảo và người đồng cấp Silvio Berlusconi nhất trí nâng kim ngạch song phương từ 40 tỉ USD trong năm nay lên 100 tỉ USD vào năm 2015 và cùng chứng kiến các doanh nghiệp 2 nước ký nhiều hợp đồng có tổng trị giá 3,15 tỉ USD. Tại điểm dừng chân cuối cùng là Thổ Nhĩ Kỳ, ông Ôn Gia Bảo và Thủ tướng Recep Tayyip Erdogan thiết lập quan hệ đối tác chiến lược giữa 2 nước.

     Một điều đáng chú ý là cả 3 điểm đến của Thủ tướng Trung Quốc đều đang có vấn đề với EU. Hy Lạp đang chìm trong khủng hoảng nợ còn những điều kiện mà EU và Quỹ Tiền tệ quốc tế đặt ra để cứu nguy cho nước này lại đang khiến dân chúng bất mãn. Tình hình tài chính ở Ý cũng không sáng sủa trong khi Thổ Nhĩ Kỳ vẫn đang bất đồng với EU về việc kết nạp nước này vào khối.
Hai thủ tướng George Papandreou (trái) và Ôn Gia Bảo trước đền Parthenon ở Athens hồi đầu tháng 10 - Ảnh: AFP
Kế hoạch Marshall

      Đây là kế hoạch trọng yếu của Mỹ nhằm tái thiết và tạo nền tảng kinh tế vững chắc cho các nước Tây Âu sau Thế chiến thứ 2. Kế hoạch này có tên chính thức là “Chương trình chấn hưng châu Âu”, nhưng thường được gọi theo tên người khởi xướng là Ngoại trưởng Mỹ George Marshall. Kế hoạch được thực thi trong vòng 4 năm, kể từ 1947. Trong thời gian đó, khoảng 13 tỉ USD tiền viện trợ kinh tế và hỗ trợ kỹ thuật được đổ vào các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế châu Âu (OECD), theo sách The Reconstruction of Western Europe, 1945-1951 (Tái thiết Tây Âu 1945-1951), của Alan Milward.


Kế hoạch Marshall kiểu Trung Quốc

     Hy Lạp hiện là thành viên yếu nhất trong nhóm sử dụng đồng tiền chung euro với nợ công chiếm 113% GDP, tương đương gần 300 tỉ euro. Do đó, việc Trung Quốc cam kết mua trái phiếu của Hy Lạp có thể rất cần thiết cho Athens trong thời điểm khó khăn. “Những thỏa thuận và tuyên bố của Trung Quốc được xem là một lá phiếu tín nhiệm cho nền kinh tế chúng tôi”, tờ Wall Street Journal (WSJ) dẫn lời Thủ tướng Hy Lạp George Papandreou sau tuyên bố của ông Ôn Gia Bảo tại Athens hôm 3.10.

     Trước đó, Trung Quốc cũng đã mua 400 triệu euro trái phiếu chính phủ của Tây Ban Nha. Hiện Bồ Đào Nha và Ireland, vốn đang đối mặt nguy cơ khủng hoảng nợ, cũng tính đến việc vay tiền của Trung Quốc, theo hãng tin IPS.

     Chuyên gia kinh tế học Veronique Salze-Lozac'h tại Quỹ Á châu so sánh kế hoạch “cứu nguy” của Trung Quốc cho các nước đang gặp khó khăn ở cựu lục địa với kế hoạch Marshall của Mỹ nhằm chấn hưng châu Âu vào những năm 1940. “Giống như kế hoạch Marshall trong thời điểm sau Thế chiến thứ 2, việc Trung Quốc ngỏ lời giúp Hy Lạp không xuất phát từ lòng nhân từ”, IPS dẫn lời bà Salze-Lozac'h nhận định. Bà nói các động thái của Trung Quốc chung quy là một chiến lược kinh tế tài chính khôn ngoan và khéo léo, có thể giúp đồng NDT thoát khỏi áp lực tăng giá từ EU và Mỹ. Thông qua chiến lược này, ông Ôn Gia Bảo muốn gửi một thông điệp rằng Trung Quốc đang nỗ lực làm thay đổi cái nhìn không tốt của toàn thế giới đối với nước này. Bà Salze-Lozac'h còn nhận định rằng, kế hoạch Marshall kiểu Trung Quốc đánh dấu một bước ngoặt trong quan hệ EU - Trung Quốc. AFP dẫn lời giới phân tích đánh giá việc Trung Quốc tham gia đầu tư vào Hy Lạp là hành động có tính ảnh hưởng sâu rộng nhất của một nước ở châu Âu kể từ Kế hoạch Marshall.

EU quan ngại

     Giới quan sát cho rằng việc nhằm vào Hy Lạp trong lúc khó khăn là một nước cờ cao tay của Trung Quốc nhưng lại là một đòn hiểm đối với EU. Bắc Kinh có thể sử dụng Athens làm cơ sở để vươn xa hơn trên thị trường châu Âu, tới Nam Âu, Đông Âu, Địa Trung Hải hay bán đảo Balkan. Do đó, EU không khỏi lo ngại nguy cơ không chỉ Hy Lạp, mà các thị trường và lĩnh vực kinh doanh khác cũng sẽ bị Trung Quốc chi phối. Từ Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, qua Ý rồi tới Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Trung Quốc dường như đang cố xây dựng một “con đường tơ lụa” mới vắt ngang qua châu Âu, tới tận bờ Đại Tây Dương.

     Theo Asia Times Online, nếu để phụ thuộc quá nhiều vào một đối tác nước ngoài vốn có động cơ không rõ ràng, vị thế của EU trên trường quốc tế sẽ gặp rắc rối. Bằng cách tranh thủ tạo quan hệ với từng quốc gia châu Âu đang mắc nợ, một số nhà quan sát cho rằng Trung Quốc đang thực hiện chiến lược “chia để trị” tại châu lục này, vốn chưa tìm được chính sách nhất quán trong quan hệ với Bắc Kinh. “Trung Quốc than phiền rằng giải quyết các vấn đề với châu Âu thật không dễ vì có quá nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên Bắc Kinh cũng đã lợi dụng điểm này để làm lợi cho mình”, ISP dẫn lời một quan chức EU tại Brussels.

                                                                    Văn Khoa ( Thanhnien Online)

Chủ Nhật, 10 tháng 10, 2010

“Đừng leo lên lưng cọp nếu chưa tìm ra sự độc đáo"

     Với tài sản trị giá 1,1 tỉ USD, Roustam Tariko được xem là một trong những doanh nhân Nga làm giàu không hẳn dựa vào quá trình tư nhân hóa của nước Nga 20 năm trước, mà còn nhờ vào tài kinh doanh thiên bẩm.
    Cuối tháng 9-2010, nhân chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên để tìm hiểu thị trường, ông đã dành cho TTCT một cuộc trao đổi.
Roustam Tariko

Tôi bán sản phẩm thật
* Đất nước chúng tôi có mối quan tâm sâu sắc tới nước Nga và người Nga, gần đây nghe nhiều về tầng lớp nhà giàu mới tại Nga. Ông có thể chia sẻ điều gì về họ?
- Tôi không biết tầng lớp người giàu mới này có nghĩa gì, dù tôi hiểu ý chị. Nhưng tôi không cho rằng đó là một tầng lớp riêng với những đặc tính về văn hóa, thói quen, mà chỉ là một mảng nhỏ hoặc một nhóm nhỏ ở Nga. Dù tôi tiếp xúc với họ từ rất lâu, tôi lại thích nói về tầng lớp trung lưu hơn.
Ai cũng cần phải làm việc và có được sự may mắn khi mình xuất hiện ở đúng lúc, đúng nơi. Và đúng là nếu bạn ở Nga trong 20 năm qua, rõ ràng bạn có rất nhiều cơ hội so với việc nếu bạn ở một nơi khác. Có thể bây giờ người Việt Nam cũng đang có cảm giác như tôi cách đây 20 năm. Nhưng tôi chưa bao giờ đặt mục tiêu trở thành những người giàu mới mà chỉ làm những gì mình muốn làm, và thành công đến tự nhiên.


* Vốn tự nhận mình là người yêu nước cực đoan, bản thân cái tên của các thương hiệu mà ông gây dựng nên cũng phần nào nói về điều đó: Tiêu chuẩn Nga (Russian Standard Corp - RSC). Ông có nghĩ mình thành công một phần nhờ đã đánh trúng vào tinh thần dân tộc?
- Đúng vậy, nhưng đó không phải là lập luận quan trọng nhất. Nếu sản phẩm của tôi đúng là kích thích lòng tự hào của người Nga và được khách hàng yêu thích thì rất tuyệt vời. Nhưng vấn đề cốt lõi vẫn là tạo ra sản phẩm tốt, có uy tín tốt, có câu chuyện hay đi kèm, chứ không chỉ tạo ra một sản phẩm và nó được yêu thích bởi lòng yêu nước của người tiêu dùng.
Lòng yêu nước quan trọng, nhưng không phải là phần quan trọng nhất trong sản phẩm. Tôi bán sản phẩm thật.

* Đến Việt Nam, ông đã biết gì về Việt Nam?
- Từ lâu tôi đã muốn tới thăm Việt Nam và cũng có nhiều dịp bàn bạc về cơ hội làm ăn với người Việt Nam cách đây ba năm. Đến Việt Nam là giấc mơ từ lâu của tôi, nhất là khi biết thị trường này đang phát triển. Nhưng quả thật tôi chưa tìm ra thời gian thích hợp để đến, vì tôi luôn muốn vừa thỏa mãn trí tò mò vừa bàn bạc làm ăn. Nay sản phẩm của tôi vào Việt Nam và bước đầu thành công, tôi mới có dịp đặt chân đến đất nước các bạn để tìm hiểu về việc kinh doanh nhiều mặt hàng, như thức uống có cồn, ngân hàng, bảo hiểm...
Tôi rất hào hứng. Điều tuyệt nhất và rõ ràng nhất tôi biết về Việt Nam là không nước nào có thể chiến thắng Việt Nam trong chiến tranh. Tôi bị mê hoặc vì điều đó. Đất nước các bạn đã huy động sức người sức của làm được những điều vô cùng khó khăn ngay cả với nước Nga.

* Nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam đang khao khát đưa thương hiệu của mình trở thành thương hiệu thế giới, để nhắc tới thương hiệu là nhắc tới Việt Nam. Nếu là họ, ông sẽ để ý đến điều gì quan trọng nhất?
- Tôi không thể đưa ra lời khuyên cụ thể vì không biết người Việt sản xuất mặt hàng nào tốt nhất. Nhưng lấy ví dụ là cà phê. Điều gì là độc đáo, khác lạ nhất trong loại cà phê mà bạn có thể đem tới cho thế giới? Hãy trả lời câu hỏi đó và hãy sản xuất nó với quy trình và kỹ thuật tốt nhất, rồi thông tin dồn dập đến người tiêu dùng để họ biết đến sự độc đáo này.
Sự độc đáo là điều rất quan trọng. Tôi gọi đó là tính cạnh tranh bền vững. Trên bình diện toàn cầu, bạn có bao nhiêu tiền hay đối tác của bạn thành công ra sao không quan trọng, mà sự độc đáo bạn có là gì. Nếu bạn không tìm ra câu trả lời thuyết phục thì đừng đi, đừng leo lưng cọp.

* Được đánh giá là một trong những doanh nhân thành công nhất trong lịch sử Nga, ông có thể chia sẻ một cách ngắn gọn bí quyết của mình?
- Chỉ là làm những gì mình thích. Điều này đặc biệt quan trọng với những người bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh. Hãy tìm hiểu xem mình thích làm gì, điều gì khiến mình hứng khởi, sẵn sàng làm ngày làm đêm thì mới thuyết phục được những người xung quanh.
Bạn cần phải chắc chắn 100% là mình đang làm điều mình yêu thích. Chỉ khi ấy bạn mới sẵn sàng trút hết 100% năng lượng. Đừng miệng nói thích cái này, tim lại thích cái khác. Ai có thể tin bạn được?

Không phải thành công trên thương trường là sẽ thành công trên chính trường
* Ông có định tham gia chính trường và giữ một vị trí nào đó trong Chính phủ Nga không?
- Chắc là không bao giờ. Mỗi người nên làm việc mà mình giỏi. Nhiều người tin rằng cứ thành công trên thương trường thì sẽ thành công trên chính trường. Đó là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Hai ngày trước, tôi ăn trưa với Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long, ông ấy chia sẻ điều mà tôi rất tâm đắc, đó là muốn trở thành một chính trị gia chuyên nghiệp, bạn cần bắt đầu từ rất sớm.
Giáo dục là một chuyện, nhưng quan trọng hơn là bạn sẽ có một cách suy nghĩ hoàn toàn khác. Ông Lý nói doanh nhân hay suy nghĩ về một dự án, ví như tôi đang nghĩ cần phải chinh phục thị trường Việt Nam trong năm năm, kiếm vài triệu USD, đầu tư chỗ này chỗ kia. Chính trị gia thì không nghĩ như vậy, họ nghĩ về chính sách, ví dụ làm thế nào để giáo dục phát triển và quá trình thực hiện ra sao.
Nếu tôi ở tuổi 25, có thể tôi sẽ nghĩ về việc tham gia chính trường.

* Nước Nga và nhiều nước khác đang chứng kiến khoảng cách giàu nghèo thật sự rất lớn. Ông có quan tâm tới quá trình rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội không?
- Ở khắp nơi trên thế giới khoảng cách này đang ngày càng rộng ra. Vì sao? Công nghệ phát triển, các công ty ngày càng lớn và bành trướng hơn, thất nghiệp gia tăng. Vậy điều quan trọng hơn là các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội của mình ra sao, và xã hội đòi hỏi họ ngày càng phải có nhiều trách nhiệm hơn. Những người thành công, các công ty, tập đoàn lớn sẽ thực hiện nhiều hơn văn hóa chia sẻ.
Các chính phủ có thể sử dụng quyền hạn của mình buộc các doanh nghiệp trả lại xã hội, không chỉ thông qua thuế má, mà điều này phải trở thành quy tắc xã hội, ảnh hưởng tới danh tiếng của họ. Sẽ đến lúc mọi người thấy nếu một doanh nghiệp làm ăn rất thành công nhưng không thực hiện trách nhiệm xã hội gì, mà chỉ coi đóng thuế là đủ sẽ phải chịu những điều tiếng tiêu cực.

* Hiện có câu chuyện khá ồn ào trên truyền thông Trung Quốc liên quan tới việc hai tỉ phú Mỹ Bill Gates và Warren Buffett đến Bắc Kinh, ăn trưa với giới nhà giàu và kêu gọi họ mở rộng hầu bao hơn nữa để chia sẻ với xã hội. Ông nghĩ gì về điều đó?
- Tôi chơi với Bill Gates và chúng tôi thường gặp nhau, chia sẻ về các dự án từ thiện. Bill Gates rất nghiêm túc và hết lòng với công việc từ thiện, thực tế là ông ấy đã hứa tặng tới 90% gia sản của mình cho các công việc từ thiện. Chắc chắn là những người giàu nên có trách nhiệm hơn với xã hội.

* Vậy còn ông thì sao?
- Tôi cũng quan tâm tới điều này, nhưng có thể không phải ở quy mô lớn như Bill Gates. Tôi quyết định đầu tư vào những đứa trẻ tài năng nên mở quỹ từ thiện giúp đỡ các em nhỏ tài năng, có khát vọng nhưng không có điều kiện học tập vì gia đình quá nghèo hoặc không có cha mẹ. Hiện tôi đang hỗ trợ khoảng 500 em như vậy.

Yêu đất nước cũng như yêu mẹ
* Ông từng nói: “Tôi có thể đi lại rất nhiều. Ngủ ở London, New York, Paris hay trên máy bay. Nhưng khi ngủ, trong suy nghĩ, tôi ở nước Nga, và tôi tỉnh dậy là người Nga”. Ông có thể nói thêm về điều đó như thế nào?
- Tôi nghĩ tình yêu đất nước cũng như tình yêu mẹ mình. Lẽ tự nhiên là ai cũng cần yêu tổ quốc. Nhưng không chỉ có vậy. Tổ quốc đã cho tôi rất nhiều thứ, được học hành, một tuổi thơ hạnh phúc, các cơ hội làm việc và luôn hỗ trợ tôi. Đó là lý do tôi yêu đất nước mình và đặt tên cho thương hiệu là Tiêu chuẩn Nga.

* Ông rất may mắn khi nhận được những thứ đó. Nhưng cũng có không ít người cho rằng tổ quốc họ đã thất bại trong việc tạo cho họ những cơ hội học tập, đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn?
- Tôi cho rằng cách suy nghĩ đó chắc chắn chẳng giúp gì cho họ cả. Giận dữ và trách móc quê hương cũng như giận dữ và trách móc mẹ mình.

* Có tiền đi cùng với có quyền và được làm rất nhiều những gì mình thích. Ông có thể mua đứt quyền đặt tên bạn gái lâu năm của mình cho một loài hoa vừa phát hiện ở Madagascar, gửi máy bay Boeing 737 đi đón con chó cưng của mình vì nhớ nó... Ông có thấy sung sướng với quyền lực đó không?
- Tôi không bao giờ có cảm giác mình đang thưởng thức quyền lực của mình. Rõ ràng có tiền thì có nhiều khả năng được làm những gì mình muốn, nhưng tôi không bao giờ coi quyền lực là niềm vui thú. Trước hết, quyền lực là khả năng làm gì đó, nhưng cùng với đó là trách nhiệm. Quyền càng cao thì trách nhiệm càng lớn. Không bao giờ có thứ quyền nào lại không đi kèm trách nhiệm.
Mỗi người tự chọn cho mình số phận, tạo ra vận mệnh của mình. Bạn chọn để trở thành một doanh nhân thành đạt và quan trọng, nhưng ngay lập tức bạn cũng có trách nhiệm đảm bảo công việc tốt cho mọi người, có trách nhiệm trong các quyết định đầu tư.
Vì vậy, nhiều người bị quyến rũ bởi sức hấp dẫn của đồng tiền, nhưng cuối cùng trong một ngày, điều gì quan trọng nhất? Đó là mình đã làm được điều mình thích, chứ không phải thích chuyện mình đã có quyền lực đến mức nào.

* Lúc nào ông cũng đi kèm với hai vệ sĩ và một người chuyên thử thức ăn cho ông. Ngay trong cuộc phỏng vấn trực tiếp này, xung quanh chúng ta cũng có tới ba người ngồi quanh. Ông có nghĩ rằng mình là một người tự do?
- Có. Tôi nghĩ tự do là quyền con người quan trọng nhất mà tôi có. Tôi thích được tự do trong tất cả những gì tôi làm. Đúng là chuyện bảo vệ an toàn về thân xác tôi là cần thiết, nhưng tôi không cho đó là vấn đề lớn quá. Tôi cũng không thoải mái lắm khi đi trên đường mà xung quanh kè kè các vệ sĩ, nhưng bạn sẽ quen với việc đó.

* Ông đang sở hữu rất nhiều thứ như chiếc ôtô trị giá 1,4 triệu USD chạy nhanh nhất thế giới, các tòa biệt thự hạng sang ở khu dành cho người siêu giàu tại Nga, chiếc Boeing 737, chiếc thuyền buồm AnnaEva đắt giá, các vệ sĩ thuê của Bộ Nội vụ Nga... Nếu phải lựa chọn buộc để lại tất cả mà chỉ được mang theo một món đồ với mình, ông sẽ chọn gì?
- Sự tự do của tôi.

* Ông có thể giải thích rõ hơn?
- Tự do làm những gì mình muốn.

* Tự do là tài sản quý giá nhưng không nhìn thấy được. Vậy cái gì về vật chất mà ông sẽ cần?
- Không có gì là quý giá cả. Có thể tôi sẽ mang theo thương hiệu mình tạo ra, và cái thẻ tín dụng. Chắc là rồi tôi sẽ có mọi thứ sau đó nhỉ (cười)!

* Cảm ơn ông và chúc cuộc đầu tư của ông vào Việt Nam thành công.

Khổng Loan thực hiện (TuoiTre Cuối tuần) 

Thứ Bảy, 9 tháng 10, 2010

IMF cảnh báo về chiến tranh tiền tệ !

      Giám đốc điều hành Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) Dominique Strauss-Kahn cho rằng cuộc chiến tiền tệ mà một số nước đang phát động sẽ “không tốt cho nền kinh tế toàn cầu”, và các nước ngày càng tỏ ra miễn cưỡng hợp tác với nhau để cùng vực dậy nền kinh tế. “Không có giải pháp cục bộ nào khả thi nếu muốn giải quyết vấn đề toàn cầu” - ông nhấn mạnh.

Giám đốc IMF Strauss-Kahn (trái) và Chủ tịch WB Robert Zoellick tại cuộc họp thường niên ở Washington - Ảnh: Reuters

     Đồng USD hiện ở mức giá thấp nhất trong tám tháng qua so với đồng euro, và căng thẳng tỉ giá giữa Mỹ và Trung Quốc đang là chủ đề nóng trong bối cảnh lãnh đạo của cả IMF và Ngân hàng Thế giới (WB) đều cảnh cáo một cuộc chiến tiền tệ có thể làm mất ổn định các thị trường tài chính toàn cầu. Các nhà đầu tư phỏng đoán Mỹ sẽ bơm thêm hàng tỉ USD vào nền kinh tế, và điều này làm giảm giá trị đồng USD so với giá của euro. 
     Giá đồng USD giảm có thể ảnh hưởng tới những người tiêu dùng, nhà đầu tư và các doanh nghiệp. Hàng xuất từ Mỹ cũng sẽ rẻ hơn với túi tiền của dân châu Âu. Tuy nhiên, đồng nhân dân tệ (NDT) bị định giá thấp đang làm suy yếu hàng xuất từ Mỹ và khiến hàng Trung Quốc trở nên hấp dẫn hơn với người tiêu dùng Mỹ. Sự mất cân bằng làm suy yếu tăng trưởng kinh tế Mỹ và đe dọa các ngành sản xuất của Mỹ vào thời điểm nước này có tỉ lệ thất nghiệp 9,6%, trong khi kinh tế của Trung Quốc lại đang tăng trưởng mạnh.
Phát biểu với các phóng viên tại hội nghị cấp cao từ ngày 8-10 ở Washington của IMF và WB, ông Dominique Strauss-Kahn nhắc lại việc đồng NDT của Trung Quốc bị “định giá thấp đáng kể” và bày tỏ lo ngại về khả năng các nước đã bắt đầu sử dụng tiền tệ như “một thứ vũ khí”.
     Theo ông, sự chuyển dịch dòng vốn và tăng trưởng về phía Trung Quốc và các thị trường mới nổi đang phát triển nhanh có nghĩa là đồng tiền của họ sẽ tăng giá một cách tự nhiên, còn nếu đi ngược lại xu hướng này sẽ không mang lại tác dụng gì xét về trung hạn. Ông cho rằng các nước mới nổi muốn có tiếng nói nhiều hơn trong các vấn đề kinh tế thế giới cần phải thực hiện bổn phận của mình nhằm đạt được những giải pháp chung.
Sau khi Trung Quốc tuyên bố xem xét lại chính sách tỉ giá, đồng NDT chỉ tăng khoảng 2% so với đồng USD trong những tháng qua. Một số nhà phân tích cho rằng để bằng với giá trị thực trên thị trường, đồng nội tệ của Trung Quốc phải tăng giá từ 25-40%. Bộ trưởng Tài chính Mỹ Timothy Geithner thúc giục IMF đóng vai trò tích cực hơn để giải quyết tranh cãi giữa Mỹ và Trung Quốc về tỉ giá.
     Chủ tịch WB Robert Zoellick cũng cảnh báo cuộc chiến tiền tệ có thể khiến các nhà đầu tư mất niềm tin vào đúng thời điểm thế giới cần đến khu vực kinh tế tư nhân để thúc đẩy tăng trưởng. “Nếu có lúc nào đó chúng ta không nên quay lưng với sự hợp tác quốc tế, thì chính là lúc này đây” - ông nhấn mạnh.
     Trong khi đó, các nhà kinh tế nhìn nhận không hi vọng sẽ có được những đột phá sau cuộc họp ba ngày vào cuối tuần ở Washington, vì các nước đang bị áp lực lớn trong việc tạo công ăn việc làm bằng cách đẩy mạnh xuất khẩu. Và một trong những cách này là hạ giá đồng tiền của mình. Trung Quốc không phải là nước duy nhất muốn có lợi thế cạnh tranh theo cách này. Mỹ cũng đang làm đồng USD yếu hơn bằng cách ép Trung Quốc tăng giá đồng NDT và tung USD ào ạt ra thị trường.
     Nhật cũng “tham chiến” từ ngày 15-9 khi bán đồng yen và mua USD để giá đồng yen thấp hơn. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản tuyên bố sẽ theo đuổi chính sách tương tự như Mỹ. Brazil và Hàn Quốc cũng vừa có các động thái hạ giá đồng tiền nước mình để bảo vệ hàng xuất khẩu.
     “Kinh tế toàn cầu đang rất vật vã sau cơn suy thoái sâu. Nước nào cũng muốn tăng trưởng bằng cách đẩy mạnh xuất khẩu - Sung Won Sohn, giáo sư kinh tế tại ĐH Kinh doanh thuộc ĐH bang California, nhận định - Tôi cho rằng chúng ta sẽ còn thấy nhiều căng thẳng về tiền tệ và thương mại hơn nữa trong tương lai”.
KHỔNG LOAN ( TuoiTreOnline)

Chủ Nhật, 3 tháng 10, 2010

Lương thấp, phí nhân công rẻ là... "tự tử" chậm!

Trên đường từ New York đến Geneva để giới thiệu bản “Báo cáo 2010 về kinh tế vĩ mô và chính sách phát triển toàn cầu”, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về kinh tế vĩ mô và chính sách phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNCTAD) Detlef Kotte đã có chặng dừng tại Paris

TTCT - Ông Detlef Kotte đã chia sẻ với cộng tác viên TTCT tại Pháp về sự lựa chọn chiến thuật phát triển kinh tế bền vững của những quốc gia đang phát triển sau hai năm khủng hoảng toàn cầu.
Trên đường từ New York đến Geneva để giới thiệu bản “Báo cáo 2010 về kinh tế vĩ mô và chính sách phát triển toàn cầu”, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về kinh tế vĩ mô và chính sách phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNCTAD) Detlef Kotte đã có chặng dừng tại Paris.

TTCT - Ông Detlef Kotte đã chia sẻ với cộng tác viên TTCT tại Pháp về sự lựa chọn chiến thuật phát triển kinh tế bền vững của những quốc gia đang phát triển sau hai năm khủng hoảng toàn cầu.
Ông Detlef Kotte - giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về kinh tế vĩ mô và chính sách phát triển của Liên Hiệp Quốc - Ảnh: Võ Trung Dung



* Từ góc độ thị trường lao động, ông đánh giá thế nào ”sức khỏe” nền kinh tế thế giới hiện nay? Còn “bệnh” hay đã lành?

- Có thể ví kinh tế thế giới giống như người bệnh nặng đã được xuất viện nhưng sự phục hồi còn rất mong manh. Bệnh có thể trở lại rất nhanh! Vì sao? Vì viện của chúng tôi từng nhận xét và cảnh báo về việc chấm dứt hơi sớm các biện pháp thúc đẩy nhu cầu kinh tế vĩ mô.

Biện pháp này được thực hiện nhằm củng cố tài chính, bởi các nước giàu từ hai năm qua lẽ ra phải cần tiếp tục vì đó là biện pháp cần thiết để ngăn chặn xoắn ốc tình trạng giảm phát và sự khủng hoảng thị trường lao động.

* Vậy còn Việt Nam nói riêng và vùng Đông Nam Á nói chung, thị trường lao động khu vực này đang có những vấn đề gì phải lưu ý, thưa ông?

- Các quốc gia này bị phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ gia công. Trời chỉ trở lạnh ở châu Âu là kinh tế của vùng Đông Nam Á bị “nhức đầu sổ mũi” ngay! Ngoài ra, còn có sự cạnh tranh về giá thành (do phí nhân công thấp) giữa các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Một số quy định không bảo vệ được người lao động như giới chủ yêu cầu người lao động làm thêm giờ quy định một cách quá đáng hoặc có thể sa thải người lao động dễ dàng...

Kinh tế vùng Đông Nam Á sẽ trở nên khó khăn khi đến một lúc nào đó sẽ có một nước khác cạnh tranh với các nước đang phát triển về giá nhân công lao động.

* Ông muốn đề cập sự phát triển bền vững?

- Chúng tôi mời Việt Nam và các nước đang phát triển xem xét lại chính sách của họ đối với sự tăng trưởng kinh tế, nghĩa là ít phụ thuộc vào xuất khẩu. Về vấn đề tạo việc làm, chúng tôi khuyên nên thúc đẩy nhu cầu trong nước do tăng sự đầu tư bằng vốn ổn định, đẩy mạnh công nghệ mới và chính sách tăng lương tương quan với tăng năng suất.

Mục tiêu đặt ra là phải tăng nhu cầu nội địa đối với hàng hóa tiêu dùng, cùng lúc tạo ra những công việc cần thiết để đáp ứng nhu cầu mới này. Ở nhiều nước, tỉ lệ thất nghiệp đã đạt mức cao nhất trong 40 năm.

* Ông nhấn mạnh vào chiến thuật phát triển bằng cách tạo công ăn việc làm, nhưng quan điểm này khác nhiều với quan điểm của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)?

- Quan điểm chính trị phát triển của IMF không thể áp dụng cho bất cứ chỗ nào! Cuộc khủng hoảng vừa qua đã cho chúng ta một bằng chứng rõ ràng. Vì vậy, chúng tôi đề nghị một biện pháp khác là muốn phát triển bền vững phải tạo ra công ăn việc làm. Công sức lao động phải được trả đúng giá. Lương thấp, phí nhân công rẻ, theo chúng tôi, là sự “tự tử” chậm!

Thất nghiệp là vấn đề bức xúc nhất của xã hội và kinh tế thời đại chúng ta, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Nó dẫn đến tình trạng đói nghèo. Cuộc khủng hoảng toàn cầu vừa qua đã làm suy sụp một cách nghiêm trọng thị trường lao động ở hầu hết các nước. Thật ra thất nghiệp đã là một vấn đề lớn trước khi khủng hoảng nổ ra. Vì vậy, tạo công ăn việc làm cần phải được xem là vấn đề ưu tiên hàng đầu trong chính sách kinh tế quốc gia.

* Có nghĩa kinh tế các nước đang phát triển không nên phụ thuộc vào nhu cầu của những nước giàu?

- Đúng vậy. Từ đầu năm 2010, tuy nhu cầu tiêu dùng của các nước giàu - như Hoa Kỳ - vẫn là động cơ của kinh tế toàn cầu, nhưng thị trường này vẫn còn rất bấp bênh, phát triển không bền vững vì người tiêu dùng tiêu thụ nhờ “mắc nợ” (tiền vay). Chính phủ khuyến khích tiêu dùng nhưng hiện tượng này là ảo.

Tôi nhận thấy Trung Quốc đã bắt đầu thay đổi chính sách phát triển của mình từ đầu năm và đã giảm đến 19% sự tùy thuộc vào xuất khẩu, thay bằng nhu cầu nội địa: tăng lương có khi đến 30%. Cán cân thương mại xuất - nhập đã cân bằng hơn.

* Nhưng tăng lương sẽ có nhiều khả năng làm giảm vốn đầu tư từ nước ngoài? Nếu tăng lương, nên để cho ai quyết định? Chính phủ?

- Sẽ bị giảm lúc đầu thôi, sau đó vốn đầu tư từ nước ngoài sẽ trở lại vì bị thị trường nội địa lôi cuốn. Về vấn đề tăng lương, nên chia làm hai việc. Thứ nhất, chính phủ quyết định lương tối thiểu hợp lý với nhu cầu sinh sống và kinh tế thị trường. Thứ hai, chính phủ tạo điều kiện thành lập những tổ chức như công đoàn có bản lĩnh và trọng lượng thật sự để họ có thể thương lượng với người đầu tư về lương bổng.

* Nếu không cạnh tranh với các nước đang phát triển khác bằng đồng lương thấp thì có thể có phương pháp nào khác?

- Có nhiều cách để thu hút vốn đầu tư nước ngoài ngoài “con mồi” lương rẻ. Thay vì đánh thuế nhẹ các công ty, các nhà máy sản xuất, gia công vốn nước ngoài, chính phủ nên tạo điều kiện tốt cho họ. Ví dụ cho sử dụng đất miễn phí trong khi hoạt động, tạo cơ sở hạ tầng chất lượng cao và có sẵn lực lượng tay nghề được đào tạo chất lượng - thợ, kỹ thuật viên... - theo nhu cầu thị trường lao động cần.

Mặt khác, các nước đang phát triển thường chỉ chú ý đến công nghiệp mà bỏ quên nông nghiệp và quên rằng từ 10 năm nay, thế giới ngày càng cần các sản phẩm này. Nên đầu tư vào nông nghiệp chất lượng cao: kỹ thuật, năng suất, chế biến trước khi xuất khẩu. Nó sẽ tạo ra một giá trị gia tăng lớn. Với nguyên liệu thô cũng vậy, nên áp dụng chính sách về nông nghiệp vừa đề cập.

Nói tóm gọn là không nên xuất khẩu hàng thô, nên chế biến trước khi bán. Vừa được lợi nhiều, vừa tạo công ăn việc làm.

* Chính sách lao động của Việt Nam có điểm nào cần sửa đổi, theo ông?

- Chúng tôi cho rằng vai trò lãnh đạo của Chính phủ rất quan trọng. Chính phủ phải tạo ra khuôn khổ và sau đó để cho thị trường phát triển. Chúng tôi nhận ra hai khuyết điểm lớn của Việt Nam: thứ nhất, giáo dục dạy nghề còn kém, không phù hợp với thị trường lao động và thiếu cái nhìn dài hạn về vấn đề này. Thứ hai, thiếu sự chú ý đến nông nghiệp và nông dân. Những tầng lớp này cần được hỗ trợ đào tạo kỹ thuật, vay vốn nhỏ lãi suất thấp để có thể phát triển.

* Ông đánh giá thế nào về vai trò của đầu tư công trong chính sách phát triển kinh tế bền vững?

- Ngược lại quan điểm của IMF, chúng tôi đánh giá đầu tư công là con đường bền và tốt cho các nước đang phát triển. Vì đầu tư này một lần nữa tạo ra việc làm, đồng thời tạo ra khả năng tiêu dùng và với nó, một cách tự nhiên, sự đầu tư để đáp ứng nhu cầu mới phát sinh. Tuy nhiên, với điều kiện đầu tư công phải có lợi cho dân như y tế cộng đồng, phương tiện giao thông công cộng, giáo dục... và phải chừng mực theo khả năng của riêng mình.

Các nước Nam Mỹ như Brazil, Argentina đã áp dụng chính sách này và thành công. Kinh tế của họ đã phục hồi sau khi bị chìm xuống đáy.

* Xin cảm ơn ông.

VÕ TRUNG DUNG thực hiện ( Tuổi trẻ cuối tuần)